VIENID Vào luyện thi

Trang chủ › Giáo trình › Vận tải ô tô

Pháp luật giao thông, biển báo Nhật Bản và Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện

Vận tải ô tô · 自動車運送業 · Bài học do Tokutei Pass tự biên soạn dựa trên giáo trình chính thức; không sao chép nguyên văn.

Trách nhiệm xã hội của tài xế chuyên nghiệp và nguyên tắc lưu thông bên trái

Người lái xe trong ngành kinh doanh vận tải ô tô (xe tải, taxi, xe buýt) điều khiển xe kinh doanh vận tải (biển số màu xanh lá cây) để chuyên chở sinh mạng con người và hàng hóa quý giá là những tài xế chuyên nghiệp, được đòi hỏi ý thức an toàn cao và trách nhiệm xã hội làm gương cho người lái xe thông thường.

Theo Luật Giao thông đường bộ Nhật Bản (Điều 17 và Điều 18), tất cả các phương tiện phải tuân thủ nguyên tắc 'Lưu thông bên trái' (đi ở phần đường bên trái tính từ tim đường), và trên đường không chia làn xe thì phải đi sát về phía lề bên trái của đường.

Trên đường có từ 2 làn xe trở lên ở mỗi chiều, về nguyên tắc phương tiện phải chạy ở làn đường ngoài cùng bên trái, và phải để trống làn đường ngoài cùng bên phải phục vụ cho việc vượt xe hoặc rẽ phải.

Ngoài ra, khi đi cắt ngang qua vỉa hè hoặc dải lề đường để rẽ vào cơ sở, trạm điều hành hay bãi đỗ xe bên ngoài đường, người lái xe bắt buộc phải dừng lại tạm thời ngay trước vỉa hè và kiểm tra an toàn hai bên để không cản trở người đi bộ.

Hơn nữa, việc quán triệt 5 nguyên tắc lái xe an toàn gồm: 'Luôn tuân thủ tốc độ an toàn', 'Giảm tốc trước khúc cua', 'Luôn kiểm tra an toàn tại nút giao thông', 'Dừng lại tạm thời bảo vệ người đi bộ qua đường' và 'Tuyệt đối không lái xe khi đã uống rượu bia' là bước khởi đầu của tài xế chuyên nghiệp.

Trách nhiệm xã hội của tài xế chuyên nghiệp và nguyên tắc lưu thông bên trái

Điểm cần nhớ


  • Người lái xe kinh doanh vận tải (biển số xanh lá) mang trách nhiệm làm tấm gương mẫu mực về lái xe an toàn

  • Đường bộ Nhật Bản lấy lưu thông bên trái làm nguyên tắc; trên đường nhiều làn thì về nguyên tắc chạy ở làn ngoài cùng bên trái

  • Khi đi cắt ngang vỉa hè hoặc dải lề đường phải dừng lại tạm thời ngay trước đó và nhường quyền ưu tiên cho người đi bộ
Từ vựngNghĩa
xe ô tô kinh doanh vận tải (biển xanh lá)
lưu thông bên trái
làn đường dành cho xe chạy
dải lề đường (dành cho người đi bộ)

Ý nghĩa của đèn tín hiệu và việc tuân thủ biển báo, vạch kẻ đường

Đèn tín hiệu giao thông màu vàng KHÔNG có nghĩa là 'tăng tốc vượt qua', mà về nguyên tắc có nghĩa là 'không được đi vượt quá vạch dừng (Dừng lại)'; chỉ khi đã tới quá sát vị trí dừng không thể phanh dừng lại an toàn mới được đi tiếp.

Đối với đèn nhấp nháy trên đường: 'Đèn vàng nhấp nháy' cho phép phương tiện chú ý quan sát các phương tiện khác để đi qua; còn 'Đèn đỏ nhấp nháy' bắt buộc phương tiện phải dừng lại tạm thời tại vị trí dừng, kiểm tra an toàn rồi mới được đi.

Biển báo đường bộ gồm 4 loại Biển báo chính (Biển chỉ dẫn, Biển cảnh báo nguy hiểm hình thoi màu vàng, Biển cấm/hạn chế, Biển hiệu lệnh) và 'Biển báo phụ' gắn phía dưới để chỉ rõ loại xe áp dụng, khung giờ hoặc phạm vi hiệu lực.

Đặc biệt, biển báo hình tam giác ngược màu đỏ 'Dừng lại tạm thời (Tomare)', biển cấm đi ngược chiều, cấm lưu thông, tốc độ tối đa, giới hạn chiều rộng, chiều cao và tải trọng là những biển quy định phải tuân thủ tuyệt đối khi lái xe kinh doanh và xe cỡ lớn.

Ngoài ra, 'Vạch kẻ đường' vẽ trên mặt đường cũng chia thành vạch quy định cấm và vạch chỉ dẫn; tài xế phải hiểu chính xác ý nghĩa của vạch tim đường nét liền màu vàng (cấm lấn làn để vượt) cũng như vạch phân làn nét liền màu vàng (cấm chuyển làn đường).

Điểm cần nhớ


  • Đèn vàng bật sáng về nguyên tắc là 'Dừng lại trước vạch dừng'; đèn đỏ nhấp nháy là 'Dừng lại tạm thời'

  • Biển báo chính chia làm 4 loại: Biển chỉ dẫn, Biển cảnh báo, Biển quy định cấm/hạn chế và Biển hiệu lệnh

  • Nắm chắc các biển giới hạn chiều cao, chiều rộng, tải trọng cũng như điều kiện ghi trên biển báo phụ
Từ vựngNghĩa
tín hiệu đèn nhấp nháy
biển báo cảnh báo nguy hiểm
biển báo cấm / hạn chế
biển báo phụ

Tốc độ tối đa, khoảng cách an toàn, đi chậm (Jokō) và dừng tạm thời

Trên đường thường không có biển báo quy định tốc độ tối đa, tốc độ tối đa theo luật định của xe ô tô là 60 km/h. Trên làn đường chính của đường cao tốc quốc gia, tốc độ tối đa theo luật định đối với xe tải cỡ lớn (Ōgata truck) là 80 km/h, còn đối với xe ô tô con và xe chở khách cỡ lớn (xe buýt) là 100 km/h.

Để phòng ngừa tai nạn đâm đuôi xe, tài xế phải giữ đủ 'khoảng cách an toàn giữa hai xe (shakan kyori)' sao cho dù xe phía trước dừng đột ngột cũng không đâm vào. Đặc biệt xe tải lớn, xe buýt hoặc xe đang chở nặng có cự ly phanh dài hơn, và khi trời mưa hay mặt đường đóng băng cần giữ khoảng cách gấp 2 lần trở lên so với mặt đường khô ráo.

'Đi chậm (Jokō)' nghĩa là di chuyển ở tốc độ mà xe có thể dừng lại ngay lập tức (khoảng từ 10 km/h trở xuống, có thể dừng hẳn trong vòng khoảng 1 mét kể từ khi đạp phanh).

Tại các nơi bắt buộc phải đi chậm (Jokō) theo luật gồm: nút giao thông khuất tầm nhìn (trừ khi đang đi trên đường ưu tiên hoặc nơi có đèn tín hiệu), khu vực góc đường gấp khúc, gần đỉnh dốc lên và trên dốc xuống có độ dốc cao.

Hơn nữa, khi đi qua nút giao thông có biển báo dừng lại tạm thời (Tomare) hoặc đường ngang đường sắt, không được chỉ đi chậm lướt qua mà phải dừng hẳn ngay trước vạch dừng cho đến khi bánh xe ngừng quay hoàn toàn, rồi dùng mắt kiểm tra an toàn hai bên trước khi xuất phát.

Điểm cần nhớ


  • Tốc độ tối đa theo luật: đường thường 60 km/h; cao tốc quốc gia: xe tải lớn 80 km/h, xe con & xe buýt lớn 100 km/h

  • Đi chậm (Jokō) là đi ở tốc độ có thể dừng lại ngay lập tức (khoảng từ 10 km/h trở xuống)

  • Các nơi bắt buộc đi chậm: ngã tư khuất tầm nhìn, góc đường cua, gần đỉnh dốc lên và dốc xuống có độ dốc cao
Từ vựngNghĩa
tốc độ tối đa theo luật định
khoảng cách giữa hai xe
cự ly phanh
đi chậm (có thể dừng ngay lập tức)

Đi qua nút giao thông, bảo vệ người đi bộ ở vạch qua đường, vượt xe và cấm dừng đỗ

Khi rẽ trái tại nút giao thông, tài xế phải chủ động áp sát vào lề trái đường từ trước, giảm tốc độ đầy đủ và đi chậm (Jokō) qua nút giao. Khi rẽ phải, phải chủ động áp sát vào gần tim đường từ trước và đi chậm qua ngay phía bên trong tâm của nút giao thông.

Khi tiến đến gần đường dành cho người đi bộ qua đường hoặc dải qua đường cho xe đạp, nếu có người đi bộ đang đi qua hoặc chuẩn bị qua đường thì bắt buộc phải dừng lại tạm thời trước vạch dừng (hoặc trước vạch qua đường) và không được cản trở họ (Điều 38 Luật Giao thông đường bộ).

Đồng thời, ngay trên vạch đường dành cho người đi bộ qua đường / dải qua đường cho xe đạp và trong phạm vi 30 mét phía trước các vạch này, pháp luật nghiêm cấm vượt (oikoshi) hoặc đi vượt qua (oinuki) các xe cơ giới khác.

Về dừng và đỗ xe: tại nút giao thông, vạch qua đường, đường ngang đường sắt, trong lòng đường tàu điện, gần đỉnh dốc, dốc cao, trong đường hầm, cũng như trong phạm vi 5 m tính từ mép nút giao thông hoặc mép vạch qua đường, trong phạm vi 10 m tính từ biển trạm xe buýt (trong giờ hoạt động) là những 'Nơi cấm cả dừng và đỗ xe'.

Ngoài ra, về 'Nơi cấm đỗ xe (Chūsha kinshi basho)', tài xế cũng cần ghi nhớ: trong phạm vi 1 m từ thiết bị báo cháy, 3 m từ lối ra vào bãi đỗ xe/nhà xe, 5 m từ mép khu vực công trường đường bộ, và 5 m từ trụ cứu hỏa hoặc họng hút nước bể nước phòng cháy chữa cháy.

Điểm cần nhớ


  • Khi có người đi bộ đang hoặc chuẩn bị qua đường trên vạch qua đường thì bắt buộc phải dừng lại tạm thời trước vạch

  • Trên vạch qua đường và trong phạm vi 30 m phía trước vạch qua đường nghiêm cấm cả vượt có chuyển làn (oikoshi) lẫn vượt thẳng (oinuki)

  • Trong phạm vi 5 m từ mép ngã tư / vạch qua đường, 10 m từ trạm xe buýt và 10 m từ đường ngang đường sắt là nơi cấm dừng và đỗ xe
Từ vựngNghĩa
đường dành cho người đi bộ qua đường
vượt xe (có đánh lái chuyển làn)
đi vượt qua (không chuyển làn)
cấm dừng và đỗ xe

Nhường quyền ưu tiên cho xe ưu tiên, xe buýt tuyến và quy tắc chạy trên đường cao tốc

Khi có xe ưu tiên khẩn cấp đang hú còi và bật đèn xoay màu đỏ (xe cấp cứu, xe cứu hỏa, xe cảnh sát...) tiến tới gần, nếu đang ở nút giao thông hoặc gần nút giao thông thì phải tránh đường giao nhau, tấp sát vào lề trái đường và bắt buộc dừng lại tạm thời để nhường đường (trên đoạn đường thẳng thông thường thì tấp vào bên trái nhường đường).

Ngoài ra, khi xe buýt tuyến cố định đang đỗ ở trạm bật đèn xi-nhan phải báo hiệu khởi hành rời bến, các xe đi phía sau không được cản trở xe buýt xuất phát, trừ trường hợp buộc phải phanh gấp hoặc đánh lái gấp nguy hiểm (Điều 31-2 Luật Giao thông đường bộ).

Trước khi đi vào đường cao tốc, tài xế phải kiểm tra đặc biệt kỹ lượng nhiên liệu, nước làm mát, áp suất lốp (nếu non hơi sẽ gây ra hiện tượng sóng đứng Standing wave làm nổ lốp) và tình trạng chằng buộc hàng hóa.

Khi buộc phải dừng xe khẩn cấp trên đường cao tốc do hỏng xe, phải đưa xe vào lề đường hoặc dải dừng khẩn cấp, bật đèn hazard, đặt biển tam giác phản quang và ống pháo sáng ở phía sau xe, đồng thời toàn bộ người trên xe không được ngồi lại trong xe mà phải sơ tán ra bên ngoài dải hộ lan.

Khi nhập vào làn chính đường cao tốc, phải tăng tốc đầy đủ trên 'làn tăng tốc' rồi mới nhập làn; và khi rời khỏi đường cao tốc, không được phanh giảm tốc ngay trên làn chính mà phải chuyển vào 'làn giảm tốc' rồi mới giảm tốc độ để tránh tai nạn đâm đuôi xe.

Điểm cần nhớ


  • Khi xe ưu tiên tiến tới gần nút giao thông: phải tránh đường giao nhau, tấp sát vào bên trái và dừng lại tạm thời

  • Chạy tốc độ cao khi lốp non hơi sẽ gây ra 'hiện tượng sóng đứng (Standing wave)' dẫn đến nổ lốp

  • Khi dừng xe hỏng trên cao tốc: phải đặt biển tam giác phản quang cảnh báo phía sau và sơ tán ra ngoài dải hộ lan
Từ vựngNghĩa
xe ưu tiên khẩn cấp (cấp cứu, cứu hỏa, cảnh sát)
đèn xoay cảnh báo (màu đỏ)
thiết bị cảnh báo xe dừng (biển tam giác phản quang)
ống pháo sáng báo hiệu khẩn cấp

Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện (sửa đổi năm 2024): Thời gian làm việc gộp và Thời gian nghỉ ngơi

Để ngăn chặn tình trạng lái xe quá sức của tài xế ô tô, 'Tiêu chuẩn cải thiện thời gian làm việc của người lái xe ô tô (Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện — có hiệu lực từ tháng 4/2024)' do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ban hành đã quy định nghiêm ngặt về Thời gian làm việc gộp, Thời gian nghỉ ngơi giữa hai ca và Thời gian lái xe.

'Thời gian làm việc gộp (Kōsoku jikan)' là toàn bộ thời gian từ lúc bắt đầu vào ca đến lúc kết thúc tan ca (Thời gian lái xe + Thời gian bốc xếp/kiểm tra xe + Thời gian nghỉ giải lao). Đối với cả xe tải, taxi (ca ngày) và xe buýt, thời gian làm việc gộp 1 ngày về 'nguyên tắc trong phạm vi 13 giờ' (mức trần tối đa cũng không quá 15 giờ).

'Thời gian nghỉ ngơi giữa hai ca (Kyūsoku kikan)' là khoảng thời gian tự do để ngủ và hồi phục sức khỏe giữa ca làm việc này với ca làm việc tiếp theo. Theo Thông tư sửa đổi năm 2024, thời gian nghỉ ngơi 1 ngày lấy cơ bản là 'nỗ lực bố trí liên tục từ 11 giờ trở lên, và tuyệt đối không được thấp hơn 9 giờ liên tục'.

Về tổng thời gian làm việc gộp trong 1 năm và 1 tháng: xe tải và xe buýt đều có giới hạn nguyên tắc không quá 3.300 giờ/năm (tối đa 3.400 giờ/năm), còn taxi (ca ngày) không quá 2.880 giờ/năm và 288 giờ/tháng.

Lưu ý thêm đối với thời gian nghỉ ngơi của tài xế xe tải: pháp luật cũng quy định các trường hợp ngoại lệ khi công việc bắt buộc như 'Nghỉ ngơi chia nhỏ (Bunkatsu kyūsoku — mỗi lần từ 3 giờ liên tục trở lên, chia 2 lần tổng cộng từ 10 giờ trở lên, chia 3 lần tổng cộng từ 12 giờ trở lên)' hoặc tính thời gian đi tàu phà (Ferry) vào thời gian nghỉ ngơi.

Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện (sửa đổi năm 2024): Thời gian làm việc gộp và Thời gian nghỉ ngơi

Điểm cần nhớ


  • Thời gian làm việc gộp (Kōsoku jikan) 1 ngày của xe tải, taxi (ca ngày) và xe buýt: 'Nguyên tắc tối đa 13 giờ, trần tối đa 15 giờ'

  • Thời gian nghỉ ngơi sau ca làm việc (Kyūsoku kikan): 'Cơ bản từ 11 giờ liên tục trở lên, không được dưới 9 giờ liên tục'

  • Thời gian làm việc gộp bao gồm cả thời gian lái xe, thời gian bốc xếp/kiểm tra xe và thời gian nghỉ giải lao
Từ vựngNghĩa
Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện (thời gian làm việc của tài xế)
thời gian làm việc gộp (từ lúc vào ca đến lúc tan ca)
thời gian nghỉ ngơi giữa hai ca làm việc
lái xe trong tình trạng làm việc quá sức

Giới hạn thời gian lái xe liên tục (tối đa 4 giờ) và thời gian lái xe trong 1 ngày

Theo Thông tư Tiêu chuẩn cải thiện, 'Thời gian lái xe liên tục (Renzoku unten jikan)' đối với xe tải và xe buýt được quy định là 'trong phạm vi 4 giờ'. Trong vòng 4 giờ kể từ khi bắt đầu lái hoặc ngay sau khi đủ 4 giờ, tài xế bắt buộc phải ngắt quãng việc lái xe để nghỉ giải lao tổng cộng từ 30 phút trở lên.

Khi chia nhỏ thời gian ngắt quãng nghỉ giải lao này (tổng cộng từ 30 phút trở lên), đối với xe tải mỗi lần nghỉ phải 'khoảng từ 10 phút trở lên', còn đối với xe buýt mỗi lần nghỉ phải 'từ 10 phút trở lên' thì mới được tính vào thời gian ngắt quãng lái xe hợp lệ.

Ngoài ra, thời gian lái xe trong 1 ngày tính trung bình trong 2 ngày liên tiếp (lấy một ngày xác định làm mốc tính) phải nằm 'trong phạm vi 9 giờ/ngày'.

Hơn nữa, về thời gian lái xe tính theo tuần: xe tải có mức giới hạn trung bình 2 tuần không quá 44 giờ/tuần, còn xe buýt có mức giới hạn trung bình 4 tuần không quá 40 giờ/tuần.

Lưu ý rằng dù có quy định ngoại lệ khi gặp sự cố bất khả kháng không lường trước (như trạm dừng nghỉ SA/PA trên cao tốc kín chỗ đỗ) hoặc trường hợp đặc biệt cho phép kéo dài thời gian lái liên tục tối đa đến 4 giờ 30 phút, nhưng trong điều kiện thông thường nguyên tắc bắt buộc vẫn là chủ động nghỉ giải lao sớm trong vòng 4 giờ.

Điểm cần nhớ


  • Giới hạn lái xe liên tục là '4 giờ'; phải nghỉ ngắt quãng tổng cộng từ 30 phút trở lên (nếu chia nhỏ thì mỗi lần từ 10 phút trở lên)

  • Thời gian lái xe 1 ngày: 'Trung bình 2 ngày không quá 9 giờ/ngày'

  • Thời gian lái xe theo tuần: xe tải trung bình 2 tuần tối đa 44 giờ/tuần; xe buýt trung bình 4 tuần tối đa 40 giờ/tuần
Từ vựngNghĩa
thời gian lái xe liên tục
ngắt quãng việc lái xe (nghỉ giải lao)
chia nhỏ (thời gian nghỉ)
ngày bắt đầu tính (ngày mốc)

Luật giao thông & biển báo

Luyện câu hỏi chương này trong app

Tài liệu tham khảo chính thức